Luật sư toàn quốc

Home Vụ Án Tư liệu Luật

Pháp Luật Luật sư

Sửa đổi gần 300 Điều của Bộ Luật dân sự

Email In PDF.
Dự thảo Bộ luật dân sự sẽ giữ 265 điều của Bộ luật năm 2005, sửa đổi gần 300 điều, bổ sung hơn 170 và bãi bỏ khoảng 150 điều...

Chiều 5/1, Bộ Tư pháp cho hay việc lấy ý kiến người dân về những thay đổi trong Bộ luật dân sự (sửa đổi) được bắt đầu từ hôm nay cho đến hết ngày 5/4. Ba đầu mối tổ chức tiếp nhận góp ý là Chính phủ, UBND; Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; TAND Tối cao và VKSND Tối cao.

Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho hay đây là Bộ luật gốc, lớn và phức tạp nên Thủ tướng quyết định lấy ý kiến của nhân dân, cả với người Việt Nam ở nước ngoài"Chỉ trong 3 tháng thôi, chúng ta làm sao huy động được trí tuệ của quần chúng nhân dân", ông trăn trở và cho rằng phương pháp, hình thức lấy ý kiến rất quan trọng.

Tại buổi công bố quyết định của Thủ tướng, đại diện Bộ Tư pháp thông báo 10 vấn đề trọng tâm của bộ luật sửa đổi gồm: quyền nhân thân; bảo vệ người thứ ba ngay tình trong trường hợp giao dịch dân sự bị vô hiệu; lãi suất trong hợp đồng vay tài sản; thời hiệu khởi kiện vụ việc dân sự, hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức; thời điểm xác lập quyền sở hữu và các vật quyền khác; điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi...

So với Bộ luật dân sự năm 2005, dự thảo lần này giữ nguyên 265 điều, sửa đổi 298 điều, bổ sung 170 điều, bãi bỏ gần 150 điều. Bộ Tư pháp khẳng định người dân sẽ được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp ý kiến. Các cơ quan có thẩm quyền sẽ tổng hợp đầy đủ, chính xác để Ban soạn thảo nghiên cứu hoàn thiện dự thảo.

Bộ luật dân sự năm 2005 gồm 777 điều, có có hiệu lực từ 1/1/2006.

Bảo Hà

 

Luật đầu tư công và những quy định mới trong đầu tư

Email In PDF.
Sự kiện Luật Đầu tư công được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 7 vừa qua, sau nhiều năm lỡ hẹn, đã mang lại hy vọng sẽ "xốc" lại kỷ cương trong quản lý, giám sát đưa đầu tư công, nâng cao hiệu quả, tránh được thất thoát, tham nhũng, lãng phí.

Sáng 18/6/2014, tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư công với 88,35% tổng số đại biểu “bấm nút” đồng ý. Luật Đầu tư công bao gồm 6 chương, 108 điều, có hiệu lực từ ngày 1/1/2015. Đây là một trong những dự án luật quan trọng, liên quan đến việc xác lập thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Chính phủ và Quốc hội đã đề cập sự cần thiết từ những kỳ họp trước. Trước khi thông qua vào sáng nay, Quốc hội đã 2 lần thảo luận về Luật Đầu tư công để ra được bản dự thảo cuối cùng.

Nội dung chính và những tác động tích cực của Luật

Luật Đầu tư công được kết cấu thành 6 chương với 108 điều. Các quy định tại Luật Đầu tư công là các nội dung mới, chưa được chế định tại các văn bản Luật khác, với nhiều tác động cụ thể như sau:

Thứ nhất, Luật Đầu tư công góp phần hoàn thiện, tạo ra hệ thống cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ với các văn bản pháp luật khác trong quản lý các nguồn vốn đầu tư công.

Quản lý và sử dụng vốn đầu tư công có liên quan đến nhiều luật khác nhau, như: Luật NSNN, Luật Xây dựng, Luật Quản lý nợ công, Luật Quản lý sử dụng tài sản nhà nước, Luật Đấu thầu, Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Thực hành tiết kiệm, Chống lãng phí...

Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật này chưa có các quy định chi tiết về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công. Cụ thể:

 - Đối với Luật NSNN: Phạm vi đối tượng điều chỉnh của Luật chỉ quy định về việc quản lý các khoản thu, chi được đưa vào cân đối NSNN và được thực hiện trong một năm. Trong khi phạm vi đối tượng điều chỉnh Luật Đầu tư công quy định toàn bộ việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư công từ chủ trương đầu tư, chuẩn bị đầu tư, phê duyệt, triển khai thực hiện, theo dõi, đánh giá kế hoạch, chương trình, dự án…

Về phạm vi nguồn vốn đầu tư công, ngoài nguồn vốn NSNN được quy định trong Luật NSNN, Luật Đầu tư công còn chế định đối với các nguồn vốn: công trái quốc gia, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối NSNN, các khoản vốn vay của ngân sách địa phương để đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng của địa phương.

Về lập kế hoạch đầu tư nguồn NSNN trong Luật NSNN chỉ quy định chung trình tự lập, thẩm định, phê duyệt dự toán NSNN, bao gồm một số điều khoản nhỏ quy định về lập dự toán chi đầu tư phát triển nguồn NSNN; không có quy định về quyết định chủ trương đầu tư, lựa chọn danh mục, bố trí kế hoạch đầu tư như thế nào để đảm bảo việc chi tiêu hiệu quả nguồn vốn này.

Trong khi đó, Luật Đầu tư công quy định toàn diện và chặt chẽ việc xác định lựa chọn danh mục chương trình, dự án đưa vào kế hoạch; các nguyên tắc, tiêu chí phân bổ và bố trí vốn kế hoạch; quy trình cách thức triển khai; theo dõi, đánh giá, giám sát thực hiện kế hoạch đầu tư công.

Đối với Luật Xây dựng: Luật Xây dựng quy định về hoạt động xây dựng; tập trung vào các nội dung về mặt kỹ thuật như quản lý về định mức kinh tế - kỹ thuật, thiết kế về quy hoạch xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng; khảo sát xây dựng và thiết kế xây dựng; giấy phép xây dựng; hợp đồng xây dựng... Luật Xây dựng chỉ áp dụng cho các dự án đầu tư có cấu phần xây dựng.

Phạm vi điều chỉnh Luật Đầu tư công cho tất cả các dự án đầu tư công; quản lý hoạt động đầu tư và quản lý, sử dụng vốn đầu tư từ chủ trương đầu tư đến lựa chọn danh mục dự án đầu tư, lập kế hoạch đầu tư trung hạn và hàng năm. Ngoài ra, trong quy định của Luật Đầu tư công việc lập, thẩm định, phê duyệt còn được quy định áp dụng cho các chương trình đầu tư công và các dự án đầu tư không có cấu phần xây dựng. Hiện nay, chưa có bất cứ văn bản pháp luật nào quy định đối tượng điều chỉnh này.

- Đối với Luật Quản lý nợ công: Để đảm bảo về an toàn nợ công, nợ quốc gia, trong Luật Đầu tư công đã quy định về nguyên tắc và căn cứ lập kế hoạch đầu tư công phải ưu tiên đảm bảo về an toàn nợ công và tuân thủ chiến lược nợ quốc gia. Việc đầu tư các chương trình, dự án, cũng như kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm bắt buộc phải được thực hiện theo kế hoạch vay, trả nợ Chính phủ. Luật Đầu tư công với các quy định rõ ràng từ khâu xác định chủ trương đầu tư, phê duyệt quyết định đầu tư, đến lập kế hoạch đầu tư, sẽ giải quyết được những vấn đề có liên quan đến trách nhiệm trả nợ và an toàn nợ công.
- Đối với Luật Phòng chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm, Chống lãng phí: Trong các điều khoản của cả 2 Luật trên chỉ có một vài điều quy định về nguyên tắc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch và danh mục dự án đầu tư; không quy định chi tiết, cụ thể. Các nội dung giữa các luật hoàn toàn thống nhất. Do đó, việc ban hành các quy định cụ thể trong Luật Đầu tư công sẽ hỗ trợ cho việc xử lý các trường hợp vi phạm nêu tại Luật Phòng chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm, Chống lãng phí.

 Như vậy, các quy định trong Luật Đầu tư công đã tạo sự thống nhất về phạm vi điều chỉnh với các luật, không hề có sự chồng chéo.

Thứ hai, phạm vi điều chỉnh Luật bao quát được việc quản lý sử dụng các nguồn vốn đầu tư công. Với phạm vi điều chỉnh và các đối tượng phạm vi áp dụng Luật được quy định tại Chương I đã bao quát các nguồn vốn đầu tư công từ NSNN, công trái quốc gia, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư từ nguồn thu để lại đầu tư, nhưng chưa đưa vào cân đối NSNN, các khoản vốn vay của ngân sách địa phương để đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam và tại nước ngoài.

Thứ ba, nội dung đổi mới quan trọng nhất của Luật Đầu tư công là đã thể chế hóa quy trình quyết định chủ trương đầu tư. Đó là điểm khởi đầu quyết định tính đúng đắn, hiệu quả của chương trình, dự án; nhằm ngăn ngừa tình trạng tùy tiện, chủ quan, duy ý chí và đơn giản trong việc quyết định chủ trương đầu tư, nâng cao trách nhiệm của người có thẩm quyền ra quyết định về chủ trương đầu tư.

Thực tế quản lý đầu tư công trong thời gian qua cho thấy lãng phí, thất thoát có nhiều nguyên nhân khác nhau, như: do buông lỏng quản lý, đầu tư dàn trải, tham nhũng, bớt xén trong thi công..., nhưng lãng phí lớn nhất vẫn xuất phát từ chủ trương đầu tư không đúng, không hiệu quả.

Tình hình trên đã kéo dài trong nhiều năm, nhưng chưa có biện pháp khắc phục, mà ngược lại có mặt còn trầm trọng hơn. Luật Đầu tư công đã dành trọn Mục 1 trong Chương II để chế định các nội dung, quy trình, phê duyệt chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư, bao gồm: thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư; điều kiện và trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư đối với từng chương trình, dự án quan trọng quốc gia và các chương trình, dự án khác.

Đây là những quy định mới chưa được chế định trong các quy phạm pháp luật hiện hành; đặc biệt các nội dung về thẩm quyền và trình tự nghiêm ngặt quyết định chủ trương đầu tư các chương trình, dự án đầu tư công.

Thứ tư, tăng cường và đổi mới công tác thẩm định về nguồn vốn và cân đối vốn, coi đó là một trong những nội dung quan trọng nhất của công tác thẩm định chương trình, dự án đầu tư công.

Hiện nay, nhiều bộ, ngành và địa phương chưa coi trọng công tác thẩm định về nguồn vốn và cân đối vốn hoặc chỉ làm hời hợt, chiếu lệ; quyết định các chương trình, dự án với quy mô lớn gấp nhiều lần khả năng cân đối vốn của cấp ra quyết định, cũng như khả năng bổ sung của ngân sách cấp trên.

Việc quy định về thẩm định nguồn vốn và cân đối vốn (thể chế hóa các chủ trương, giải pháp trong Chỉ thị số 1792/CT-TTg sẽ tạo điều kiện nâng cao chất lượng và hiệu quả của chương trình, dự án đầu tư công.

Hiện nay, nhiều bộ, ngành và địa phương chưa coi trọng công tác thẩm định về nguồn vốn và cân đối vốn hoặc chỉ làm hời hợt, chiếu lệ; quyết định các chương trình, dự án với quy mô lớn gấp nhiều lần khả năng cân đối vốn của cấp ra quyết định, cũng như khả năng bổ sung của ngân sách cấp trên.

 Thứ năm, đổi mới mạnh mẽ công tác lập kế hoạch đầu tư; chuyển từ việc lập kế hoạch ngắn hạn, hàng năm sang kế hoạch trung hạn 5 năm, phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm. Đây cũng là một trong những đổi mới quan trọng trong quản lý đầu tư công. Luật đã dành riêng một chương quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt và giao kế hoạch đầu tư công, bao quát toàn bộ quy trình từ lập kế hoạch đến thẩm định, phê duyệt và giao kế hoạch đầu tư trung hạn và hàng năm theo các nguyên tắc, điều kiện lựa chọn danh mục chương trình, dự án đầu tư theo từng nguồn vốn cụ thể.

Trong công tác lập kế hoạch đầu tư công đã quy định nhiều nội dung mới, có căn cứ khoa học và thực tiễn, như việc lập kế hoạch đầu tư trung hạn sẽ đảm bảo các chương trình, dự án khi đã được phê duyệt chắc chắn sẽ được bố trí đủ vốn để hoàn thành theo đúng quyết định phê duyệt, khắc phục tình trạng không cân đối được nguồn vốn, bị động, đầu tư cắt khúc ra từng năm hiện nay.

Các căn cứ, nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư trung hạn và hàng năm cho tất cả các nguồn vốn được quy định chặt chẽ, cụ thể, đảm bảo việc lập kế hoạch phù hợp với các mục tiêu, định hướng, trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Nguyên tắc bố trí vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm cho các chương trình, dự án, cũng như những nguyên tắc lựa chọn danh mục dự án, dự kiến mức vốn bố trí cho từng dự án được đảm bảo, nhằm khắc phục được tình trạng đầu tư dàn trải, manh mún như trước khi có Luật.

Các điều kiện chương trình, dự án đầu tư công được bố trí vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm đảm bảo đủ thời gian cho các chủ chương trình, dự án hoàn thành các thủ tục đầu tư. Đồng thời, yêu cầu các chủ chương trình, dự án chỉ được bố trí vốn kế hoạch hàng năm khi đã có đầy đủ các thủ tục đầu tư đúng thời gian quy định, khắc phục tình trạng vừa thi công, vừa hoàn thiện các thủ tục đầu tư như vừa qua.

Việc xây dựng và thực hiện kế hoạch đầu tư trung hạn sẽ vừa đảm bảo các cân đối kinh tế lớn trong phạm vi cả nước, vừa tạo sự chủ động cho các bộ, ngành, địa phương biết cấp mình, cơ quan mình có bao nhiêu vốn trong kế hoạch 5 năm để có quyết định chủ trương đầu tư đúng đắn, hiệu quả hơn; đặc biệt là tạo ra sự công khai, minh bạch trong phân bổ nguồn lực của Nhà nước, tránh cơ chế xin - cho.

Thứ sáu, tăng cường công tác theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công. Luật Đầu tư công dành một chương quy định các nội dung về triển khai thực hiện kế hoạch; theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công của tất cả các cấp, các ngành. Đây cũng là lần đầu tiên, công tác theo dõi, đánh giá thực hiện kế hoạch đầu tư và các chương trình, dự án đầu tư công, đặc biệt các quy định về giám sát cộng đồng được quy định trong Luật, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Với các quy định này, hy vọng các kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công được triển khai thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật. Đồng thời, trong từng khâu thực hiện kế hoạch, chương trình, dự án đều được tổ chức theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra, đảm bảo quản lý và sử dụng nguồn vốn đầu tư công đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả.

Thứ bảy, tiếp tục đổi mới hoàn thiện quy chế phân cấp quản lý đầu tư công phân định quyền hạn đi đôi với trách nhiệm của từng cấp. Trên cơ sở giữ các nguyên tắc về phân cấp quản lý đầu tư công, quyền hạn của các cấp, các ngành như hiện nay, Luật đã chế định các quyền hạn và trách nhiệm của các cấp trong toàn bộ quá trình đầu tư của các chương trình, dự án từ lập kế hoạch, phê duyệt, đến triển khai theo dõi, đánh giá thực hiện kế hoạch đầu tư công.

Với những nội dung đổi mới nêu trên, việc triển khai thực hiện Luật Đầu tư công sẽ góp phần quan trọng vào việc thực hiện tái cơ cấu đầu tư công theo hướng nâng cao hiệu quả. Từ đó, tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững.

Có thể khẳng định rằng, các quy định pháp lý rõ ràng, cụ thể trong toàn bộ hoạt động đầu tư trong Luật Đầu tư công, sẽ tạo bước tiến lớn trong quản lý; đảm bảo tính công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng nguồn lực của Nhà nước; góp phần và tạo điều kiện pháp lý để đẩy mạnh công cuộc phòng chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm trong đầu tư xây dựng cơ bản.

Việc ban hành Luật Đầu tư công tạo ra hệ thống cơ sở pháp lý quan trọng trong quản lý đầu tư công. Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước khởi đầu. Để thực sự phát huy hiệu lực và hiệu quả của Luật Đầu tư công, cần: (i) Có sự nỗ lực của tất cả các ngành, các cấp và doanh nghiệp; (ii) Đổi mới cả tổ chức, đào tạo, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ và cải tiến lề lối làm việc của các tổ chức, cơ quan có liên quan; (iii) phải có sự tham gia tích cực của mặt trận tổ quốc các cấp, các đoàn thể, các hiệp hội và cộng đồng dân cư. Có làm được như vậy, mới thực sự nâng cao hiệu quả của đầu tư công, khắc phục những tồn tại, hạn chế hiện nay, tạo điều kiện phát triển hạ tầng kỹ thuật, đảm bảo phát triển nhanh, bền vững của nền kinh tế./.

TS. Nguyễn Thị Phú Hà

Phó Vụ trưởng Vụ Tổng hợp Quốc dân, Bộ Kế hoạch và Đầu tư


 

Ông Nguyễn Thanh Chấn đề nghị bồi thường oan sai 10 tỷ đồng

Email In PDF.
Theo đơn đề nghị của gia đình ông Nguyễn Thanh Chấn, con số đề nghị được bồi thường cả về vật chất và tinh thần sau 10 năm tù oan sai được gia đình ông Chấn đưa ra là 10 tỷ đồng.

Ngày 4.8, nguồn tin của chúng tôi cho biết, Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội đã có giấy mời gửi ông Nguyễn Thanh Chấn (SN 1961, trú tại thôn Me, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) lên làm việc vì đơn yêu cầu bồi thường oan sai của ông này.

Theo giấy mời này thì vào 9h ngày 15.8, Tòa phúc thẩm (TAND Tối cao) mời ông Nguyễn Thanh Chấn đến làm việc về việc ông đề nghị bồi thường những thiệt hại do Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội ra bản án hình sự trái pháp luật đối với ông. Theo đơn đề nghị của gia đình ông Chấn, con số đề nghị được bồi thường cả về vật chất và tinh thần sau 10 năm tù oan sai được gia đình ông Chấn đưa ra là 10 tỷ đồng. 



Ông Nguyễn Thanh Chấn (bên phải).

 

Diễn biến vụ án như sau: Ngày 15.8.2003, tại thôn Me, xã Nghĩa Chung, Huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã xảy ra vụ án giết người, nạn nhân là chị Nguyễn Thị Hoan. Theo kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, nạn nhân bị nhiều vết thương ở đầu, mặt, bụng làm đứt động mạch, chảy máu và mất máu cấp… dẫn đến tử vong.

Ngày 17.8.2003, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Giang đã ra quyết định khởi tố vụ án giết người theo Điều 93 Bộ luật Hình sự để tiến hành điều tra. Từ một số thông tin ban đầu, ngày 30.8.2003, Cơ quan điều tra đã mời ông Nguyễn Thanh Chấn, trú tại thôn Me, xã Nghĩa Chung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đến trụ sở làm việc để lấy lời khai.

Căn cứ tài liệu điều tra ban đầu ngày 28.9.2003, Cơ quan điều tra đã ra lệnh tạm giữ với ông Nguyễn Thanh Chấn; tiếp đó, ngày 29.9.2003, đã ra quyết định khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam với ông Nguyễn Thanh Chấn về tội danh giết người.

Ngày 10.2.2004, Viện KSND tỉnh Bắc Giang ra bản cáo trạng – quyết định truy tố bị can Nguyễn Thanh Chấn về tội giết người theo quy định tại điểm n, khoản 1, Điều 93 Bộ luật Hình sự.

Đến ngày 26.3.2004, TAND tỉnh Bắc Giang đã mở phiên tòa xét xử bị cáo Nguyễn Thanh Chấn và đã ra bản án tuyên bị cáo phạm tội giết người với mức án tù chung thân; bị cáo Chấn kêu oan và làm đơn kháng cáo.

Ngày 26 và 27.7.2004, Tòa phúc thẩm TAND Tối cao xét xử phúc thẩm vụ án, tuyên y án sơ thẩm. Trong quá trình điều tra bị cáo có khai nhận hành vi giết người, nhưng tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo không nhận tội. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật; phạm nhân Nguyễn Thanh Chấn đã và đang chấp hành án hình phạt chung thân.

Trong quá trình ở trại giam, phạm nhân Nguyễn Thanh Chấn đã có một số lần kêu oan, Ban giám thị trại giam đã gửi đến các cơ quan liên quan, trong đó có Viện KSND Tối cao và TAND Tối cao xem xét. 

Bà Nguyễn Thị Chiến, vợ của phạm nhân Nguyễn Thanh Chấn cũng có đơn kêu oan cho chồng. Nội dung đơn cho rằng, thủ phạm gây ra vụ án giết người vào đêm 15.8.2003 là Lý Nguyễn Chung (cùng trú tại thôn Me, xã Nghĩa Chung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) chứ không phải là ông Nguyễn Thanh Chấn.

Từ đó Cơ quan điều tra Viện KSND Tối cao đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng của Bộ Công an, TAND Tối cao khẩn trương tiến hành các biện pháp điều tra, xác minh kết hợp với kiên trì vận động đối tượng ra tự thú.


Giấy mời làm việc gửi ông Nguyễn Thanh Chấn.

Ngày 25.10.2013, đối tượng Lý Nguyễn Chung đã ra đầu thú và khai nhận đã thực hiện hành vi giết chị Nguyễn Thị Hoan vào tối ngày 15.8.2003 để cướp tài sản. Ngày 6.11.2013, tại phiên tòa tái thẩm, Hội đồng Thẩm phán, TAND Tối cao hủy bản án hình sự phúc thẩm số 1241/PTHS ngày 27.7.2004 của Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội và bản án hình sự sơ thẩm số 45/HSST ngày 26.3.2004 của TAND tỉnh Bắc Giang đối với Nguyễn Thanh Chấn; chuyển hồ sơ vụ án cho Viện KSND Tối cao để điều tra lại theo thủ tục chung. 

Ngày 9.5.2014, Cơ quan điều tra. Viện KSND Tối cao đã khởi tố bị can, thực hiện lệnh bắt tạm giam đối với thượng tá Trần Nhật Luật - Phó trưởng Công an huyện Việt Yên (Bắc Giang) và ông Đặng Thế Vinh - Trưởng phòng 10, Viện KSND tỉnh Bắc Giang và về hành vi "Làm sai lệch hồ sơ vụ án” (theo Điều 300 Bộ luật Hình sự). Hai ông này bị khởi tố do liên quan đến việc điều tra, kiểm sát điều tra trong vụ “Án oan ông Nguyễn Thanh Chấn” giết người khiến cho ông Chấn phải chấp hành bản án 10 năm tù giam.

Theo Thắng Quang (Dân Việt)

 

Bộ ngành nào 'vô địch' về ban hành 'giấy phép con'?

Email In PDF.
Với 68 điều kiện kinh doanh thuộc những ngành nghề kinh doanh do bộ Công Thương quản lí và ban hành, bộ này đã trở thành "nhà vô địch" về ban hành “giấy phép con”. 

Con số này được Tổ liên ngành về rà soát các ngành nghề cấm kinh doanh và kinh doanh có điều kiện đưa ra tại buổi tọa đàm về kết quả rà soát sơ bộ do Viện nghiên cứu quản lí kinh tế Trung ương CIEM tổ chức chiều 6-10.

Sau bộ Công Thương là bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với 58 điều kiện kinh doanh… Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với bộ Tư pháp là hai bộ ít đặt điều kiện kinh doanh nhất, trong đó bộ Kế hoạch và Đầu tư có bốn điều kiện còn bộ Tư pháp có bảy điều kiện kinh doanh.

Ông Lê Duy Bình, Chuyên gia rà soát độc lập đến từ Công ty cổ phần tư vấn quản lí kinh tế Economica Việt Nam cho biết, qua rà soát tổ liên ngành đã liệt kê được 398 “giấy phép cha”, 2.129 "giấy phép con" và 1.745 "giấy phép cháu".

 

Trong đó có 110 ngành nghề yêu cầu phải có giấy phép kinh doanh với 171 loại giấy phép kinh doanh. Đồng thời còn có 83 ngành nghề yêu cầu có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh với 62 loại giấy chứng nhận. Bên cạnh đó có 44 loại ngành nghề cần có chứng chỉ hành nghề với 53 loại chứng chỉ hành nghề. Ngoài ra còn có 345 ngành nghề yêu cầu phải có chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

“Các giấy phép này được ban hành rất đa dạng, phong phú. Rất nhiều điều kiện khắt khe với việc gia nhập thị trường của doanh nghiệp. Thậm chí chỉ một thông tư đã làm thui chột hàng ngàn ý định kinh doanh”, ông Bình nhấn mạnh.

Vì sao lại có sự khắt khe này? Ông Bình cho biết lí giải của các bộ ngành họ đặt điều kiện là để bảo vệ xã hội, bảo vệ môi trường, là do chức năng của ngành, giám sát của cơ quan nhà nước… “Với những lí do này, có những giấy phép dường như hợp lí và nhận được sự ủng hộ của xã hội nhưng cũng có những giấy phép không nhận đươc sự đồng thuận của xã hội. Ví dụ như nuôi ong cũng phải xin giấy phép thì 70.000 người nuôi ong ở Việt Nam phải xin giấy phép và có 70.000 giấy phép nhưng mục đích để làm gì?”, ông Bình thắc mắc.

Ngoài lí do các bộ ngành nêu ra, theo ông Bình còn có những lí do khác như hạn chế cạnh tranh để bảo vệ cho một số ngành, doanh nghiệp nào đó hoặc các bộ ngành muốn giữ vai trò gác cửa, chứng tỏ cái quyền của mình. Ngoài ra, lí do nhiều điều kiện còn xuất phát từ việc khó quản lí thì cấm, thì ra điều kiện, đây là biện pháp quản lí dễ nhất cho quản lí.

T.HẰNG

 

Bộ ngành nào 'vô địch' về ban hành 'giấy phép con'?

Email In PDF.
Với 68 điều kiện kinh doanh thuộc những ngành nghề kinh doanh do bộ Công Thương quản lí và ban hành, bộ này đã trở thành "nhà vô địch" về ban hành “giấy phép con”. 

Con số này được Tổ liên ngành về rà soát các ngành nghề cấm kinh doanh và kinh doanh có điều kiện đưa ra tại buổi tọa đàm về kết quả rà soát sơ bộ do Viện nghiên cứu quản lí kinh tế Trung ương CIEM tổ chức chiều 6-10.

Sau bộ Công Thương là bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với 58 điều kiện kinh doanh… Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với bộ Tư pháp là hai bộ ít đặt điều kiện kinh doanh nhất, trong đó bộ Kế hoạch và Đầu tư có bốn điều kiện còn bộ Tư pháp có bảy điều kiện kinh doanh.

Ông Lê Duy Bình, Chuyên gia rà soát độc lập đến từ Công ty cổ phần tư vấn quản lí kinh tế Economica Việt Nam cho biết, qua rà soát tổ liên ngành đã liệt kê được 398 “giấy phép cha”, 2.129 "giấy phép con" và 1.745 "giấy phép cháu".

 

Trong đó có 110 ngành nghề yêu cầu phải có giấy phép kinh doanh với 171 loại giấy phép kinh doanh. Đồng thời còn có 83 ngành nghề yêu cầu có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh với 62 loại giấy chứng nhận. Bên cạnh đó có 44 loại ngành nghề cần có chứng chỉ hành nghề với 53 loại chứng chỉ hành nghề. Ngoài ra còn có 345 ngành nghề yêu cầu phải có chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

“Các giấy phép này được ban hành rất đa dạng, phong phú. Rất nhiều điều kiện khắt khe với việc gia nhập thị trường của doanh nghiệp. Thậm chí chỉ một thông tư đã làm thui chột hàng ngàn ý định kinh doanh”, ông Bình nhấn mạnh.

Vì sao lại có sự khắt khe này? Ông Bình cho biết lí giải của các bộ ngành họ đặt điều kiện là để bảo vệ xã hội, bảo vệ môi trường, là do chức năng của ngành, giám sát của cơ quan nhà nước… “Với những lí do này, có những giấy phép dường như hợp lí và nhận được sự ủng hộ của xã hội nhưng cũng có những giấy phép không nhận đươc sự đồng thuận của xã hội. Ví dụ như nuôi ong cũng phải xin giấy phép thì 70.000 người nuôi ong ở Việt Nam phải xin giấy phép và có 70.000 giấy phép nhưng mục đích để làm gì?”, ông Bình thắc mắc.

Ngoài lí do các bộ ngành nêu ra, theo ông Bình còn có những lí do khác như hạn chế cạnh tranh để bảo vệ cho một số ngành, doanh nghiệp nào đó hoặc các bộ ngành muốn giữ vai trò gác cửa, chứng tỏ cái quyền của mình. Ngoài ra, lí do nhiều điều kiện còn xuất phát từ việc khó quản lí thì cấm, thì ra điều kiện, đây là biện pháp quản lí dễ nhất cho quản lí.

T.HẰNG

 
Trang 1 của 48

Danh mục chính

Đăng nhập



Hiện đang online

Hiện có 90 khách Trực tuyến

Thông số kỹ thuật website

Hệ điều hành : Linux s
Phiên bản PHP : 5.3.29
Phiên bản MySQL : 5.6.22
Thời gian : 14:58
Caching : Tắt
Nén dữ liệu : Tắt
Các thành viên : 982
Content : 1311
Liên kết web : 6
Số lần xem bài viết : 1698356

Tin mới

Mạng Xã hội của Luật sư Việt Nam
Ban Quản Trị: Luật sư Vũ Ngọc Dũng - 0938188889
Công nghệ ứng dụng: Internet Marketting
Design by TDS Tech

Thiết kế website - Thiết kế nhận diện